1. DẪN NHẬP




Lịch sử Nam tiến của người Việt Nam trải dài suốt từ thời nhà Lý đến các vua Nguyễn; các năm 1306, 1471 thường được nhắc tới như chỉ là những cột mốc đánh dấu cái dòng chảy rất đều, không ngừng nghỉ của các đoàn người Nam tiến. Thực ra nếu nhìn kỹ vào từng giai đoạn ta sẽ thấy cái dòng chảy ấy không đều như đã nghĩ. Nó có những lúc dữ dội để chiếm hữu, lúc lắng lại để định hình, lúc thì nếp ăn nếp ở ngôn ngữ phong tục thiên về Chàm, lúc thì chuyển hẳn sang Việt. Ở đây chúng tôi xin đưa ra một cách phân kỳ để thử xác định ý nghĩa và dấu ấn của mỗi giai đoạn mà nó để lại trên mỗi tiến trình lịch sử, qua đó có thể ít nhiều hiểu được, và thử dựng lại những gì đã xảy ra trong suốt 500 năm (1306 đám cưới Huyền Trân đến 1802 khi Gia Long lên ngôi) dài dằng dặc ấy.
Ví dụ như giai đoạn lịch sử này, quan hệ Việt - Chàm có điều gì đó rất lạ, nó vừa thân thiết như người nhà lại vừa dữ dội như hai kẻ thù không đội trời chung: Năm 1370, sau cuộc loạn Dương Nhật Lễ, mẹ Nhật Lễ trốn sang Chiêm Thành, bày tỏ tình hình suy yếu của nước Đại Việt và xui Chế Bồng Nga sang đánh Việt. Thế nhưng chỉ sau đó vài năm, 1390, khi Chế Bồng Nga chết ngay trên chiến thuyền khi tiến đánh Đại Việt, con Chế Bồng Nga là Chế Ma Nô Đà Nan bị La Khải cướp ngôi đã sang Việt cầu cứu. Phong Chế Ma Nô Đà Nan làm Hiệu chính hầu. Đến 1407, khi nhà Minh bắt được Hồ Quý Lý, Chiêm Thành cất quân thu lại đất cũ, dân di cư (Việt vào dưới thời Hồ) sợ chạy tan cả[1], các tướng lĩnh Đại Việt như Hối Khanh, Nguyễn Rỗ đều bỏ chạy cả, chỉ một mình Ma Nô Đà Nan chống nhau với Chiêm Thành, thế cô sức núng, bị người Chiêm giết chết! Trớ trêu thay, đây lại là con của Chế Bồng Nga! Làm sao để hiểu hiện tượng này?
Quan hệ Việt - Chàm giai đoạn này quả thật có điều gì đó rất lạ, không giống như ta thường hình dung rạch ròi “địch - ta” như thường nghĩ! Đó là tầng lớp chính trị, tầng lớp mà ý thức dân tộc, tự hào dân tộc của họ thường mạnh mẽ, thế nhưng ở đây hình như khái niệm dân tộc không còn rạch ròi như ta vẫn thường hình dung. Phải chăng ở mức độ nào đó các khái niệm Chàm - Việt khá là gần gũi chứ không phải chỉ có “ta - địch”? Vậy ở tầng lớp bình dân, nhân dân lao động không quan tâm mấy đến chính trị thì sao? Hẳn các tộc người, các làng Việt - Chàm ở cạnh nhau, thậm chí làm sui gia nhau, cũng không phải là điều gì không thể xảy ra. 
Trong tâm thức nhiều người đây như một vùng đất không người ở, mờ nhạt trên mặt đất là những con đường mòn cũ, ai đó đã đi qua và tạo nên họ cũng không buồn bận tâm. Trên con đường ấy thỉnh thoảng có vài lưỡi cuốc, lưỡi cày, vài từ ngữ rơi vãi được người Việt đến nhặt lên và sử dụng. Và họ gọi đó là tiếp thu văn hóa! Tất cả chỉ có vậy, không hơn không kém! Hình tượng này đã đến lúc cần được thay đổi, trên con đường ấy không phải chỉ có một người bước đi mà đã có ít nhất hai người lữ hành cùng bước bên nhau suốt 500 năm dài đằng đẵng.
Đã từng có lúc họ âm mưu triệt tiêu nhau, như không thể đội trời chung, nhưng cũng có lúc choàng vai nhau mà đi, giúp nhau từng bát cơm, hạt muối lúc gian nan, lúc binh đao cũng như lúc bão lũ; lúc thì người này che giấu người kia nhưng cũng có lúc người kia chịu hiểm nguy để đứng lên bảo vệ người này khỏi những cuộc truy sát. “Tội đồ của ta chúng hết thảy bao dung” (Chiếu bình Chiêm), nhưng con trai của Chế Bồng Nga cũng sẵn sàng hy sinh cho Đại Việt khi các tướng Đại Việt đã bỏ chạy cả! Họ đã từng cãi nhau rằng tau mới là văn minh còn mi là mọi rợ! Nhưng họ cũng đã từng gả con cái cho nhau, từng ngồi mâm cơm sui, từng chung một đội nhạc đưa linh, từng cùng nhau giữ gìn bờ cõi chống kẻ thù chung; hết lớp cha đến lớp con. 500 năm là bao nhiêu đời? Những đứa trẻ đã chơi cùng nhau trên cùng cánh đồng, bơi bên nhau trên cùng dòng sông, thả trâu trên cùng một vạt cỏ làng; cùng chơi chung nhưng cũng cùng đánh nhau, cùng bảo “tau đi đường ni có bông có hoa, mi đi đường nớ có ma đứng đàng”... Điều lý thú là suốt 20 thế hệ như vậy nhưng nếp nhà ai thì nhà nấy giữ; khác nhau mà không phủ định nhau, mỗi người một vẻ đẹp, nếu có hơn có kém thì một đã mất đi trong vài thế hệ chứ sao kéo dài được 500 năm không mai một?
Chặng cuối con đường đó không phải chỉ còn lại một người mà vì nhiều lý do khiến cả hai đã nhập vào làm một theo tỉ lệ chí ít 50/50. Chỉ một điều đáng tiếc là con cháu họ lại cứ đinh ninh rằng cuộc hành trình đó chỉ có một, dòng họ mình là thuần Việt mà không hay rằng đang tự làm nghèo mình đi, đó là chưa nói đã vô tình mà có lỗi rất nhiều với ông bà tổ tiên mà không hay không biết!
Sự thật này là khắc nghiệt nhưng cần phải nhìn thẳng vào nó và nói lên bằng những lời rõ ràng nhất! Sự tự hào về nền văn hóa Việt không ngăn cản ta tự hào với bất cứ gốc gác nào đã góp phần tạo nên sự tự hào đó. Đó là chưa nói khái niệm mà ta gọi là Việt đó cũng là một sự tổng hòa của rất nhiều các nền văn hóa của các cộng đồng cư dân sống trên dải đất này suốt nhiều ngàn năm qua.
Tiếc là suốt những năm dài dưới góc nhìn đầy thiên kiến của các nhà nho phong kiến sự tự hào đã đi theo con đường phủ nhận, khinh miệt và không thừa nhận bất cứ cái gì khác mình. Và đến nay những chuẩn mực này xem ra vẫn chưa thôi ảnh hưởng đến quan điểm của nhiều người. Ai là Chàm thì Chàm nhưng dòng họ ta dứt khoát là Việt, gia phả đã chứng mình điều đó! Tiếc thay, cần phải nói thật rằng phần lớn gia phả đều bất khả tin! Và vấn đề không phải chỉ cần được nhìn nhận một cách khoa học hơn mà chính là cần có một lăng kính khác, góc nhìn khác.
*
*   *
Sự thiếu hụt các nguồn sử liệu khiến việc nghiên cứu lịch sử Đàng Trong trong thời gian dài đã phải dừng lại ở các nhận định đơn giản và không thể trả lời được những câu hỏi phức tạp mà cuộc sống đặt ra như bản sắc người Quảng Nam, bản sắc Đàng Trong hình thành như thế nào; giọng nói người Quảng Nam, phương ngữ miền Nam hình thành từ bao giờ và vì sao lại có phương ngữ đó; người Chiêm Thành dân số bao nhiêu vào cuối thế kỷ 14 mà Chế Bồng Nga có thể 4 lần đánh vào Thăng Long; với dân số như vậy thì họ biến đi đâu mà đến nay chỉ còn thưa thớt ở các tỉnh Nam Trung Bộ; liệu khái niệm về sự giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc có đủ để trả lời tất cả những câu hỏi đặt ra; liệu sự hòa huyết giữa hai dân tộc có diễn ra theo hình dung lâu nay rằng ai Chàm thì Chàm chứ họ tui dứt khoát là Việt tất cả các họ đều là đàn ông Việt còn mẹ là Người Chàm v.v...?
Rõ ràng nguồn tư liệu từ gia phả, sử ký, thực lục của các thời đại vua chúa, và cả những truyền khẩu đều không thể trả lời được những câu hỏi đại loại như trên. Chính vì vậy, khi bắt tay vào tiếp cận đề tài chúng tôi đã nghĩ đến việc phải xây dựng những công cụ cơ bản, thậm chí cần đồng thuận với nhau ở một số khái niệm cơ bản trước, để khi gặp một thực tế ta không phải mất công truy tìm tài liệu gốc mới có thể thống nhất được cách nhìn. Ví dụ như chuyện dòng họ, nếu thống nhất được số năm mỗi thế hệ ta sẽ không phải đòi bản gia phả gốc mới có thể kết luận được sự khả tín của gia phả này. Hoặc với công cụ về ngôn ngữ, như khi bắt gặp một ốc đảo ngữ âm lạ giữa một vùng giọng Quảng Nam điển hình chúng ta sẽ biết hướng sự chú ý của mình vào đâu để có thể nắm được một cách tương đối nguồn gốc tiền hiền, hoặc những cư dân Việt đầu tiên đến làng đó.
*
*   *
Dấu vết văn hóa Chàm còn để lại trong đời sống người Việt ở Quảng Nam hiện nay là rất nhiều. Có thể dẫn ra đây rất nhiều những công trình, những bài viết được in trong các tạp chí địa phương hoặc được đọc trong các cuộc hội thảo về văn hóa và lịch sử ở các tỉnh miền Trung. Các dấu hiệu, hay nói cách khác là các bằng chứng, thường được nhiều người nói đến và đã hầu như được công nhận là của người Chàm mà không cần bàn cãi thêm là tục thờ cúng cá ông và các lễ hội miền biển, những miếu bà Giàng, bà Lồi, các nữ Thần Chàm như lăng bà Thu Bồn, Thiên Y A Na Diễn phi chúa ngọc, Phiếm Ái châu đại đức phu nhân; ghe bầu, làm nhà trên cọc của các cư dân sông nước, mùa chiêm và lúa chiêm, cái cày Trung bộ, ăn gỏi, đội khăn, bới tóc, các giếng vuông vẫn đang được dùng ở một số nơi; một số phong tục tập quán trong cúng đất, cúng giỗ ma chay, các làn điệu dân ca, hát ru... Dĩ nhiên chúng ta có thể bảo tất cả những hiện tượng văn hóa truyền thống nào của người Quảng Nam nhưng ngoài Bắc không có đều là của người Chàm để lại và con số thống kê có thể kéo dài mãi một cách vô nghĩa nếu như ta không nhận thấy ở đây cái tiến trình hình thành bản sắc mang trong nó những bí ẩn đang cần được giải thích, chứ không phải chỉ là những hiện tượng đáng ghi nhận.
Sự giao thoa hai nền văn hóa Việt - Chàm trước nay vẫn thường được các nhà nghiên cứu thích dùng từ tiếp thu văn hóa, giai đoạn gần đây xuất hiện thêm thuật ngữ tiếp biến văn hóa để nhấn mạnh hơn sự tồn tại rất cụ thể, có phần nguyên gốc của các yếu tố Chàm nhằm phản ảnh một xã hội người Việt đã tiếp thu, kế thừa, tiếp nhận và thích nghi nhiều yếu tố văn hóa Chàm trong một quá trình dài vay mượn có chọn lọc cái mới. Nổi bật trong số này là luận án tiến sĩ Xứ Đàng Trong của Li Tana. Li Tana đã đánh giá sự tiếp biến này là vô cùng quan trọng và lần đầu tiên trong giới nghiên cứu chị đã đề cập nó ở góc độ bản sắc văn hóa người Việt hiện nay: “Tác động qua lại phong phú này cuối cùng đã cho ra đời một ý thức về bản sắc Việt Nam, cắm rễ sâu trong môi trường xã hội, văn hóa và tự nhiên của vùng đất mới phương Nam. Các di dân người Việt đã bỏ lại phía sau nơi chôn nhau cắt rốn của họ và giờ đây thường phải sống thành những nhóm nhỏ trong vùng đất của người Chàm cũ, hẳn là đã cảm thấy nền văn hóa Chàm vừa có những nét đẹp riêng vừa xa lạ khiến người ta phải e dè. Trong một trạng thái tâm lý bất ổn, người Việt vừa bị lôi cuốn nhưng đồng thời lại cũng cố gắng tìm cách thoát khỏi (hay thu phục khi có thể) nền văn hóa xa lạ đã có ở đó trước khi họ đến và thường là vẫn còn bao quanh họ”[2]. Li Tana đã dừng lại ở đó và không khảo sát thêm là những nhóm nhỏ người Việt trong vùng đất của người Chàm cũ ấy họ đã tiếp thu cái văn hóa Chàm ấy từ đâu, từ những người Chàm cụ thể hay từ những dấu vết họ để lại. Chị đã cảm thấy cái văn hóa ấy vẫn bao quanh họ thế nhưng cái bao quanh ấy không hề được mô tả bất cứ dòng nào trong luận án mặc dù nó xứng đáng được đầu tư nhiều hơn nữa. “Phía Nam có nghĩa là một môi trường có nhiều khả năng để chọn lựa, là không gian để rèn luyện và phát triển những yếu tố kinh tế, xã hội và văn hóa mới khá xa với những chờ đợi chật hẹp trong khuôn khổ Nho Giáo. Việc chấp nhận là một thành phần của một thế giới Đông Nam Á rộng lớn hơn đã giúp cho các di dân người Việt có khả năng vay mượn, trộn lẫn và hấp thụ một cách rộng rãi các yếu tố văn hóa người Chàm và của các dân tộc khác trong vùng. Và kết quả là trong quá trình dài tiến về phía nam, chính người Việt Nam đã được địa phương hóa. Nhưng nói thế không có ý nói là người Việt Nam ở Đàng Trong đã không còn là người Việt Nam nữa hay đã đánh mất bản sắc của họ. Phải hơn, họ đã tạo ra ở đây một cách thức khác làm người Việt Nam, một cách thức nảy sinh từ một thái độ sẵn sàng kinh qua, chấp nhận và tiếp biến những gì hữu ích trong môi trường mới, bất luận từ đâu đến...Nhiều đức tính của người phía nam như óc tò mò và cởi mở đối với những cái mới, với những tư tưởng mới, tính hồn nhiên và khoáng đạt hơn, thái độ không mấy dễ dàng để mình bị ràng buộc bởi lịch sử và truyền thống, tất cả có thể đã do ảnh hưởng của hai thế kỷ dưới thời của các chúa Nguyễn này”[3].
Đánh giá cao sự tiếp biến, theo nghĩa tiếp thu có chọn lọc, nền văn hóa Chàm, Li Tana vẫn cứ thiếu sót khi một mực bảo rằng đó là sự tiếp thu đưa đến tiếp biến, ngoài ra không có gì khác. Đây gần như là một quan điểm chính thống và đã được hầu hết các nhà nghiên cứu cũng như hầu hết những người quan tâm đến các vấn đề Xứ Đàng Trong và các tộc họ chấp nhận như là một sự thật hiển nhiên. Đó là sự tiếp thu một chiều, người Việt tiếp thu văn hóa người Chàm rồi biến nó thành văn hóa Việt, văn hóa xứ Quảng, hay nói cách khác văn hóa Việt đã được khoác lên mình chiếc áo mới rộng rãi hơn, tươi tắn, năng động hơn và vì thế nhìn ở góc độ nào thì nó cũng là da thịt Việt, con người Việt. Có phải sự thật như vậy hay sự việc đã diễn ra một cách phức tạp, đa chiều hơn? Có quá ít tư liệu để chúng ta có thể dựng lại những gì đã xảy ra, để có thể tường tận những bước phát triển, những chặng đường mà người xứ Quảng đã trải qua để hình thành nên người xứ Quảng hôm nay, tuy vậy chúng tôi vẫn tin rằng không phải là không có thể.
*
*   *
Nhiều người không hiểu cái giọng nói của người Quảng Nam nó xuất phát từ đâu trong khi tất cả các gia phả của các dòng họ đều ghi rõ rằng thủy tổ của họ là người Nghệ An, Thanh Hóa, Hải Dương... vào đây. Giáo Sư Trần Quốc Vượng bảo: “Thì các cụ vào đây đâu có đem vợ con đi được nên lấy vợ Chàm rồi sinh con đẻ cái là cái chuyện hết sức bình thường. Vấn đề là các bà mẹ Chàm nói tiếng Việt ấy đã truyền lại cho con cái mình cái giọng của người Chàm nói tiếng Việt. Cái giọng đó chính là giọng Quảng Nôm nhà cậu” [4]. Bằng chứng về cái chuyện trai Việt lấy gái Chàm thì nhiều lắm. Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân hay nói về hình ảnh ông Ba Bị của vùng Quảng Bình, Quảng Trị. Hồi đó các cụ nhà ta đi vào Nam vợ con tất cả đều phải để lại chỉ mang theo một đứa con trai. Một bị cõng con, một bị lương thực và một bị quần áo. Cái hình ảnh của những đoàn người ra đi vào Nam khắc khổ và lặng lẽ ấy đủ sức dọa bất cứ đứa trẻ khóc dai, khó bảo nào. Vào đây những đứa con trai ấy lớn lên lấy ai làm vợ nếu không phải là các cô gái Chàm? Suy luận logic là vậy, thế nhưng chúng ta vẫn có được một bằng chứng khá hay ngay trong Sử ký Toàn thư, đó là Chiếu dụ của vua Lê Hiến Tông năm 1499 (28 năm sau khi Lê Thánh Tông bình Chiêm): Kể từ nay, trên từ thân vương, dưới đến dân chúng, đều không được lấy đàn bà con gái Chiêm Thành làm vợ, để cho phong tục được thuần hậu [5]. Dĩ nhiên lấy đó làm bằng chứng người Việt không lấy vợ Chàm thì thật ngớ ngẩn, đó chẳng qua là vì người ta lấy vợ Chàm quá nhiều, thành phong trào từ thân vương đến dân thường, nên mới có cái chiếu dụ như thế!
Và ở đây chúng tôi cũng có thêm một cuộc khảo sát bước đầu về vốn từ của người Quảng Nam, đây thực sự là một bước thử đặt nền móng ban đầu trong khi chờ đợi những nghiên cứu kỹ hơn về vấn đền vốn từ hoặc một công trình như từ điển phương ngữ Quảng Nam, Đây thực sự là một chuyện khá quan trọng, nếu không nói là then chốt trong việc xác định tính cách người Quảng Nam, và qua đó cũng gián tiếp hiểu được cái sức mạnh của nguồn cội mà từ đó họ hình thành. 
Ở Quảng Nam nhiều người vẫn bảo giọng nói khác nhau là bởi nước uống. Có làng như làng Thanh Quýt, chỉ một con đường làng không vừa lối cho một chiếc xe bò nhưng bên này đường thì nói mô, tê, răng, rứa còn bên kia đường thì đâu, kia, sao, dậy...Giọng nói của người Quế Sơn, Tiên Phước thì khác xa lắm với giọng nói của người Đại Lộc, Điện Bàn, Hội An. Ngay ở Đà Nẵng mà người “bên tê sông” bao gồm bốn phường: Nại Hiên Đông, Mân Thái, Thọ Quang, An Hải Tây vẫn giữ cái giọng nói không giống với bất cứ cái giọng nói nào của người Quảng. Tại sao thế? Do nước uống chăng?
Trong 500 năm từ 1306-1802, đối với người Chàm ở lại thì kinh đô đã dời vào Đồ Bàn. Hệ thống hành chính, chính trị coi như không còn nhưng điều đó đối với đa số nhân dân là chuyện xa lạ. Họ vẫn ở lại với những làng Chàm của họ. Người Việt đến cũng quần cư trong những ngôi làng Việt mới mở. Có thể là làng này cách làng kia chỉ một con đường làng nhỏ. Có thể là bên này áo dài khăn đóng, bên kia là sa-rông khăn vấn. Có thể là bên này kiêng thịt bò còn bên kia thì mỗi lần mổ bò lại trống chiêng inh ỏi. Có thể là bên này bảo Siva mới là chúa tể của tất cả, còn bên kia thì cãi, không, Ngọc Hoàng Thượng Đế mới là trên hết. Có thể là họ lườm nhau, nguýt nhau, cãi nhau suốt 500 năm như thế. Biết làm sao được, đó là cuộc va chạm giữa hai nền văn minh khổng lồ của nhân loại là Ấn Độ và Trung Hoa. Và phải chăng cú va chạm nảy lửa ấy vẫn còn để lại dấu vết đâu đó trong tâm hồn người Quảng Nam? Họ như luôn phải khẳng định một điều gì đó, trung thành với một niềm tin nào đó. Không thế họ không sống được, họ như cảm thấy thất bại và không tồn tại. Phải chăng họ hay cãi cũng vì thế? Biết làm sao được, họ đã có cả một lịch sử dài đến 500 năm để cãi nhau kia mà!
Hình ảnh da báo của các ngôi làng Chàm và Việt ấy ta còn thấy đến giữa thế kỷ16, trong “Ô Châu cận lục” có viết “Làng Thủy Bạn nói tiếng Chiêm. Gái Giáng La thì mặc áo Chàm, trai thì cầm quạt tàu”. Cái hình ảnh này đã được một người Anh vẽ lại rất rõ trong một bức tranh vẽ một nhóm người An Nam ở một làng gần vịnh Đà Nẵng (có thể hiểu là vùng cửa sông thuộc phường Nại Hiên Đông ngày nay) vào cuối thế kỷ 18 với sà-rông, khăn vấn turban trên đầu. Như vậy là đến cuối thế kỷ 18 vùng Nại Hiên Đông, Đà Nẵng vẫn còn rất đông người hoàn toàn mặc đồ Chàm. Họ có hoàn toàn nói tiếng Chàm không? Không ai biết nhưng ít nhiều nó lý giải được tại sao đến giờ người “bên tê sông” vẫn nói bằng cái giọng lạ như thế. Ở Thanh Quýt, và Tiên Phước, Quế Sơn tình hình cũng có thể là đã diễn ra như vậy: Có một số làng Chàm chỉ chịu chuyển sang nói tiếng Việt về sau này, chậm nhất là cuối thế kỷ 18, chứ không phải tất cả đều từ 1306 hoặc 1471.
*
*   *
Trước đó năm 1403, dưới triều Hồ Hán Thương đã phát động nhiều đợt di dân vào vùng Quảng Nam lập nghiệp. Triều đình tổ chức cho thuyền chở phụ nữ vào làm vợ cho những di dân nhưng giữa đường bị bão đánh, tất cả đều bị chìm chết[6]! Ý định tạo những dòng họ thuần Việt bất thành! Thế thì hóa ra tất cả những người Quảng Nam hiện nay đều mang trong người năm mươi phần trăm dòng máu của người Chàm? Và còn hơn thế nữa họ đang nói tiếng Việt bằng giọng Chàm! Dĩ nhiên sự kiện này không đại diện được cho cả 500 năm hình thành bản sắc Đàng Trong, thế nhưng nó cũng cho thấy ngay từ đầu ý thức “Đại Việt”, một cái gì đó “thuần Việt” cũng đã hình thành và ít nhiều nó cũng đã định hình một thái độ thiếu bình đẳng với người bản xứ; điều đó không khỏi tác động đến sự xung khắc khi hai cộng động người sống cạnh nhau kéo dài nhiều trăm năm sau đó.
Trở lại với những lập luận trên ta thấy người Việt sẽ không bao giờ chịu tiếp thu bất cứ điều gì bởi luôn tự hào mình có nền văn minh cao hơn. Trong Chiếu Bình Chiêm của Lê Thánh Tông đã cho thấy một sự miệt thị văn hóa Chămpa và trong các văn bản đều luôn xem họ là người Man di, mọi rợ. Sự tiếp thu và tiếp biến chỉ diễn ra khi người Việt đối diện với nền văn minh cao hơn. Xem họ là “mọi” thì tiếp thu cái gì? Vì vậy lập luận hữu lý nhất ở đây chính là giả thiết cho rằng người Chàm ở lại là số đông. Người Việt đến chìm lấp trong cộng đồng người Chàm. Sau khi Nguyễn Hoàng vào Nam và thiết lập nên nền chính trị tập quyền thì họ mang nguyên nền văn hóa của mình khi bắt buộc mang họ Việt, chuyển thành người Việt bằng cách nói tiếng Việt và quên dần gốc gác.
Cái sự quên dần gốc gác này cũng đã diễn ra một cách phức tạp khó tìm ra căn nguyên thật sự. Giả định đặt ra là người Việt khi mạnh lên và nắm toàn bộ quyền lực, bắt người Chàm mang họ Việt, bắt họ nói tiếng Việt đồng thời hình thành trong xã hội một cái nhìn miệt thị với người Chàm, xem họ là “mọi” đã khiến những người Chàm cảm thấy sự quên đi gốc gác sẽ khiến họ dễ sống, được tôn trọng hơn, cũng là điều hợp logic.
Vì vậy cố gắng dựng lại cái mô hình xã hội cho phép hình dung nên cái cộng đồng cộng cư của hai nền văn hóa Việt-Chàm cũng như quá trình giao lưu và hòa nhập của hai nền văn hóa này ở Quảng Nam những năm trước khi Gia Long lên ngôi là một công việc cực kỳ quan trọng, đó không chỉ là sự nhìn nhận lại lịch sử một cách chính xác đầy đủ hơn mà đó còn là sự tìm lại cội gốc, căn nguyên hình thành của một bản sắc văn hóa có tính cội nguồn của phương Nam, một nửa của đất nước. Và còn hơn thế nữa, đây là cánh cửa khai mở để ta có thể nhìn vào những giai đoạn xa xưa hơn của đất nước, thời mà sự dịch chuyển các cộng đồng người đã tạo nên bản sắc Việt chứ không phải là những dòng sử ký ngô nghê nào đó về huyền thoại hình thành dân tộc.
*
*   *
Quả thật là sẽ sai lầm nếu ta cứ mãi cường điệu cái tính cách của người Quảng Nam lên rồi cố công lý giải cái điều mà phần lớn sự thật hình thành nên do tưởng tượng, do sự nồng nhiệt với vùng đất quê hương, do sự cường điệu những điều mà thật ra ở đâu cũng có, ví như đất địa linh nhân kiệt, đất học, đất văn vật, đất trung tâm văn hóa, đất ngã ba đường...
Rõ ràng sự nghiên cứu văn hóa địa phương sẽ không nhích lên một bước nếu ở đâu và bao giờ chúng ta cũng cứ lặp đi lặp lại những mỹ từ vừa nói cho mỗi vùng đất mà không thử tìm hiểu căn nguyên của tất cả những điều đó, nó xuất phát từ đâu, hình thành và phát triển lên như thế nào...?
Mà thật ra sự hình thành tính cách, giọng nói của người Quảng Nam cũng sẽ không có một chút nghĩa lý nào cả nếu qua đó chúng ta không rút ra được điều gì to lớn hơn cái ý nghĩa địa phương chí của nó, không góp phần làm rõ hơn cái bản sắc mà qua đó nó có thể đóng góp cho sự phát triển của vùng đất nói riêng và của cả đất nước nói chung.
Bằng phương pháp phân kỳ lịch sử Nam Tiến của dân tộc, qua những biến cố lịch sử đã xảy ra trên vùng đất này, và điều quan trọng nhất là xác định thời gian của mỗi giai đoạn, xác định cái độ dài thời gian cần thiết để mỗi sự kiện diễn ra có đủ điều kiện để có thể để lại những dấu ấn của nó trong đời sống, trong tâm hồn của mỗi cư dân rồi định hình một tính cách trên hậu duệ của họ ở vùng đất này.
Cái phương pháp phân kỳ ở đây thật ra cũng không có gì mới so với tất cả những gì nhiều người đã nói trước đây, chỉ có điều nếu trước đây người ta chỉ nêu lên các mốc thời gian của các sự kiện mà ít để ý đến quãng thời gian đã trải qua giữa hai sự kiện, trong khi điều đó là vô cùng quan trọng để sự tiếp thu, tiếp biến, giao lưu văn hóa diễn ra rồi hình thành và cố định một tính cách bền chắc, không chịu biến đổi trong các giai đoạn sau.
 Ví dụ như ít người để ý rằng kể từ khi Bắc Quảng Nam thuộc vào Việt từ 1306 đến khi vùng đất này có dinh trấn đầu tiên, có cơ quan quyền lực chính thức đại diện cho triều đình Đại Việt năm 1602, là 300 năm đã diễn ra. 300 năm không chính quyền[7] trên một vùng đất nhiều dân tộc mà các dân tộc này người ta đã từng đánh nhau, hoặc nhà nước của các dân tộc này đã từng đánh nhau chí tử suốt nhiều trăm năm trước đó. Điều gì đã xảy ra trong suốt 300 năm ấy? 300 năm là ngắn hay dài? Đó là quãng thời gian để hình thành nên nền văn hóa châu Mỹ La Tinh độc đáo trên cơ sở của ba nền văn hóa khá khác nhau là Châu Phi, Châu Âu, và Châu Mỹ bản địa. 300 năm chí ít là 12 thế hệ đã trôi qua! Những người con của đời thứ 12 có biết ông bà tổ tiên đời thứ nhất của mình sống ra sao, yêu ghét cái gì, ý thức dân tộc cộng đồng như thế nào, thậm chí ông bà họ là dân tộc gì, họ có phải là người đã quên nguồn gốc hay chưa, hay đã hoà nhập vào cộng đồng dân tộc Đại Việt mà họ không một chút ý thức? Đó vẫn luôn là những sự kiện quan trọng buộc chúng ta phải có cái nhìn thấu đáo hơn cũng như phải cân nhắc và trả lại cho nó những vai trò, vị trí xứng đáng của nó trong tiến trình hình thành lịch sử của dân tộc. Và thậm chí, sau khi tiếp cận với các nguồn tư liệu chúng tôi đã nhận ra không phải là 300 năm như cảm nhận ban đầu mà thực sự là đã có 500 năm đằng đẵng (1306-1802) để hoàn thành một cuộc hòa nhập khó diễn tả hết những nét bi hùng của nó.
Một ví dụ khác, sự kiện Chúa Nguyễn cho xây  lũy Trường Dục[8] đóng vai trò như thế nào trong lịch sử? Ai cũng biết rằng đó là một chiến lũy nội bất xuất ngoại bất nhập[9] nhưng ít người để ý rằng kể từ khi có lũy Trường Dục 1630 thì các cuộc di dân cũng có nghĩa là chấm dứt. Lúc này thì cho dầu miền Thanh - Nghệ, Hải Dương có mất mùa đói kém thế nào đi nữa thì dân di cư cũng không thể vào Nam cho dầu họ đã có một số thân bằng quyến thuộc vào trước. Thực tế cho thấy là các năm sau 1630 các cuộc di dân đều đã đi lên vùng biên giới phía Bắc. (Trong Thanh Thực Lục thì giữa các năm 1738 và 1743 người Việt Nam vượt biên giới sang Trung Hoa vào các tháng 6 và 8 năm 1742, rồi vào tháng 2 và 4 năm 1743. Thanh Thực Lục đề cập nhiều đến việc người Việt bán con cho người Trung Hoa vì đói kém)[10]. Việc này bản thân nó cũng chỉ là một sự kiện lịch sử đơn thuần nếu ta không nhận thấy từ nó một điều rằng chính nhờ sự chia cắt tuyệt đối này, sự cắt đứt hoàn toàn các mối quan hệ với vùng “quê cha đất tổ” ở phương Bắc mà Đằng Trong đã dần ổn định một tính cách, một vùng ngôn ngữ, hay nói cách khác, trên vùng đất mới với nhiều cộng đồng người với nhiều nền văn hóa khác nhau đã tổng hòa nên một sắc thái văn hóa mới không còn giống với nguyên quán. Sự cắt đứt này kéo dài 150 năm từ 1630 đến khi Nguyễn Huệ thống nhất đất nước giữa năm 1786. 150 năm là gần 6 đời, thời gian đủ để xóa nhòa các nét văn hóa được những người đầu tiên cố gắng bảo tồn, nếu như con cháu họ không muốn bảo tồn! Hãy nhìn vào các thế hệ thứ hai, thứ ba trở đi của các con cháu người Việt ở các nước Âu Mỹ chúng ta sẽ hình dung được phần nào điều gì xảy ra nếu văn hóa bị cắt đứt, mất giao tiếp với nguồn cội trong suốt 140 năm!
*
*   *
Khi nghiên cứu các giai đoạn lịch sử của Đàng Trong nhiều người đã phải dừng lại các công cuộc tìm hiểu bởi các sử liệu để lại như đã nói là quá sức hiếm, hiếm đến mức mỗi giả thiết đưa ra đều khó lòng tìm được đủ cứ liệu để chứng minh. Chính vì thế trong suốt một thời gian dài công cuộc nghiên cứu lịch sử Đàng Trong hầu như chỉ dừng lại ở việc thống kê, dựng lại lịch sử các triều đại và đôi nét về đời sống kinh tế xã hội của Xứ Đàng Trong. Công cuộc Nam tiến được diễn giải và được hiểu như là một đường thẳng tiệm tiến, sự khó khăn của những di dân tiên phong chỉ được hiểu là sự khó khăn của người đến nơi hoang vu, rừng thiêng nước độc, không bóng người, họ là những người Việt nguyên gốc với tất cả cái nền bản sắc văn hóa của đồng bằng Bắc bộ. Thế nhưng cái mô hình phát triển này đã ngày càng bộc lộ nhiều điều thiếu sót, không thể giải thích được nhiều hiện tượng thực tế của vùng Quảng Nam; ví dụ như: Người Quảng Nam có tiếp thu nhiều điều từ nền văn minh Chàm thế nhưng thử hỏi họ tiếp thu cái gì ở chỗ không người, hoặc thấy người là chém là giết và xem họ là mọi? Đi tìm câu trả lời cho tất cả những điều như thế quả thật không dễ, nhất là trong tình hình các cứ liệu là quá sức hiếm.
Với cái nhìn phân kỳ chúng ta cũng sẽ có thái độ đúng đắn hơn với các nguồn tư liệu, đơn giản là vì không có bất cứ tư liệu nào đủ phản ảnh được toàn bộ quãng thời gian dài suốt 500 năm. Có thể lúc này, nơi kia người Chàm bị tàn sát nhưng nơi khác lại không thế. Có thể chỗ này người Việt di cư chạy tan cả khi Chiêm Thành cất quân thu lại đất cũ nhưng chỗ kia, lúc khác thì người Việt vẫn ở lại cùng người Chàm mà không hay chính quyền đã thay đổi. Trước đây, khi tìm thấy những bản văn “Bắc địa tấu từ” tương truyền là những bản báo cáo của những di dân về những ứng xử với người Chàm gởi ra triều đình Thăng Long; trong đó nói nhiều về chuyện dùng những mưu chước đề lấy đất của người Chàm. Hoặc như giới nghiên cứu khá hào hứng với những gia phả cổ xưa khả tín của người Chàm hoặc người Việt vào sớm và xem đó như là bức tranh chân thực về lịch sử Nam tiến mà không hay rằng trong không gian khác, thời gian khác chuyện có thể đã xảy ra không như vậy. Các bạn có thể thấy trong sách, tư liệu được xử dụng nhiều nhưng không một tư liệu nào gọi là một tư liệu “đinh”, quan trọng nhất phản ảnh được toàn bộ 500 năm của một cuộc giao hòa văn hóa. Điều rút ra ở đây là góc nhìn, cách nhìn vấn đề, còn tư liệu chỉ giúp ta hình dung nên câu chuyện, bối cảnh xã hội lúc đó không hơn không kém.
Thậm chí chúng tôi cũng tin rằng đây chính là phương pháp luận cho một cách tiếp cận lịch sử chân thực hơn, không để bị ràng buộc quá nhiều vào các nguồn tư liệu luôn hạn chế và cũng luôn thiếu sự khách quan.
Sự giao hòa văn hóa của hai nền văn minh Chăm - Việt trên vùng đất Quảng Nam có thể nói ở mức độ nào đó là cuộc va chạm của hai nền văn minh lớn của nhân loại là Ấn Độ và Trung Hoa, sự va chạm này là vô cùng sâu sắc và diễn ra một cách phức tạp, đa chiều và song hành, theo nghĩa kéo dài, chứ không đơn giản chỉ có tiếp thu, tiếp nhận, tiếp biến như đã từng được hình dung, theo nghĩa diễn ra một lần là xong. Cuộc va chạm ấy đã tạo nên một bản sắc thứ ba không còn giống với bất cứ cái gốc nào, mặc cho việc người trong cuộc thừa nhận mình từng thuộc bên này hay bên kia. Việc xác định điều này là vô cùng cần thiết không chỉ giúp ta hiểu rõ hơn những gì mà ta hay gọi là bản sắc, cá tính của một vùng đất, không giống với các nơi khác, mà còn giúp ta hình dung những tác nhân cần thiết và đủ để tạo nên một bản sắc mới, một cộng đồng văn hóa mới. Và có lẽ điều đó là cần thiết hơn bất cứ cái gì trong phạm trù bản sắc văn hóa.
Nhiều người theo thói quen khi cầm đến một cuốn sách, một công trình nghiên cứu nào đó sẽ chú ý đến phần tư liệu tham khảo để xem có tư liệu nào mới trong công trình này hay không. Tư liệu mới là một khâu quan trọng nếu muốn công bố một điều gì đó mới. Tiếc thay trong sách này tư liệu lại không mới, tất cả chỉ là một góc nhìn mới trên cái nền tư liệu như thường nói, ai cũng biết rồi.
Điều này không phải chỉ phản ảnh cái nền thiếu tư liệu của lịch sử các tỉnh phía Nam Hải Vân mà còn là lệ thuộc vào phương pháp nghiên cứu lịch sử đơn tuyến trong khi vấn đề cần được nhìn ở góc độ dân tộc học đa ngành[11]. Hơn nữa, trong một cái nhìn thời gian dài suốt 500 năm công tác tư liệu sẽ thành thứ yếu, bởi như đã nói đến nhiều lần trong sách này, bất cứ tư liệu nào đó cũng sẽ chỉ phản ảnh cái thời gian không gian của lúc đó, nơi đó; có thể với chỗ khác, lúc khác vấn đề xảy ra đã không như vậy nữa.
Sau khi vững tin với phần công cụ được xây dựng chúng ta hoàn toàn có thể nhìn sâu hơn vào sự hình thành dân cư ở các địa phương cũng như xét lại sự chính xác, mức độ khả tín của gia phả các tộc họ, hoặc nhìn sâu hơn vào tính cách người Quảng Nam như nét tính cách “Quảng Nam hay cãi”, hoặc có điều kiện để hiểu rõ hơn những ốc đảo ngữ âm xuất hiện đây đó rất khó lý giải tại sao, cũng như sẽ giúp ta thấu đáo hơn trong đánh giá, giải mã để hiểu rõ hơn các tập tục, lễ hội ở miền Trung.

Lịch sử Chămpa, lịch sử xứ Đàng Trong hầu như đã được các nhà nghiên cứu đi trước làm xong với nhiều công trình công phu rất đáng để chúng ta khâm phục như “Lịch sử Chămpa” của Maspero; “Lịch sử xứ Đàng trong” của Phan Khoang; hoặc như công trình nghiên cứu cụ thể hơn về chính trị, xã hội của Li Tana trong “Xứ Đàng Trong - Lịch sử Kinh tế - Xã hội Việt Nam Thế kỉ 17 và 18”... Ở đây chúng tôi không lặp lại những sự kiện lịch sử ấy mà đi sâu phân tích các sự kiện lịch sử đó hầu cố gắng tìm ra những bằng chứng đủ sức thuyết phục, hoặc giải thích được các vấn đề về bản sắc người Quảng Nam nói riêng và Xứ Đàng Trong (các tỉnh Nam Trung bộ và cả đến miền Nam) nói chung.
Không để bị ràng buộc quá nhiều vào các cứ liệu, trên cơ sở những sử liệu đã có chúng tôi mạnh dạn đưa ra những giả định trên cơ sở những lập luận logic. Dĩ nhiên điều này thật khó tìm được sự đồng tình nhưng bù lại chúng tôi vẫn tin rằng điều này sẽ đẩy các cuộc nghiên cứu sau này thoát khỏi vạch xuất phát, thoát khỏi sự nghiên cứu lịch sử đơn thuần, để từ đó có thể đem lại những hiệu quả cụ thể trong đời sống văn hóa, tâm linh của người Quảng Nam, những hiệu quả cụ thể trong sự nghiên cứu các tộc họ, các gia phả. Và điều quan trọng nhất là qua đó chúng ta có thể hiểu được rằng lịch sử bản thân nó, với những câu chuyện, sẽ không là gì cả vì ở đâu mà không có những câu chuyện, cái quan trọng là qua lịch sử đó chúng ta hiểu được bản sắc của vùng đất ấy, dân tộc ấy.
Và đó, bản sắc lịch sử, có thể nói là phương pháp chính của chúng tôi khi khảo sát các giai đoạn lịch sử đã diễn ra trong quá trình Nam Tiến của dân tộc trên vùng đất Quảng Nam này. Nói đúng và dễ hiểu hơn, chúng tôi tập trung nhiều sự chú ý của mình vào các sự kiện có khả năng tạo nên bản sắc.




[1] Đại Việt Sử ký toàn thư- Viện Khoa học xã hội Việt Nam. NXB. Khoa học xã hội. tập 2 trang 219 (kể từ đây xin được viết tắt là SKTT)
[2] Li Tana Xứ Đàng Trong - trang 193.
[3] Li Tana, sđd, trang 217.
[4] Những trích dẫn lời Cố Giáo sư Trần Quốc Vượng ở đây đều là những lời ông giảng hoặc nói chuyện mà chúng tôi được nghe chứ chưa thấy ông viết ra ở công trình nào. Tuy vậy, đây thực sự là những cảm hứng chính để chúng tôi đi sâu hơn tìm hiểu những gì mà bằng trực cảm ông đã nhìn thấy. Và đó cũng là cảm hứng chính để chúng tôi hoàn thành tập sách này.
[5] Chiếu dụ tháng 8 ngày 9 năm Cảnh Thống thứ 2 1499. SKTT. NXB Khoa học Xã hội. Tập 3, trang 17.
[6] SKTT tập 2 trang 204: Năm 1403 Hán Thương đem những người không có ruộng mà có của đến Thăng Hoa (Nam Quảng Nam, Nam sông Thu Bồn đến giáp Quảng Ngãi nay), biên chế thành quân ngũ. Quan lại ở các lộ, phủ, châu, huyện chia đất cho họ ở. Người ở châu nào thì thích hai chữ tên châu ấy vào hai cánh tay để làm dấu hiệu. Đến năm sau đưa vợ con đi theo, giữa đường bị bão chết đuối, dân phần nhiều ta oán.
[7] Thật ra cũng có nhưng đó chỉ là những chính quyền hành chính mờ nhạt, chủ yếu tập trung ở các vùng thị trấn dọc đường quốc lộ. Ngay vị tổng trấn danh tiếng cuối cùng trước khi Nguyễn Hoàng vào nam là Bùi Ta Hán khi mất cũng được Đại Việt Sử ký Toàn Thư gọi là Thổ quan, cũng đủ cho ta hình dung chính quyền cai trị của Đại Việt trên vùng đất này sau 1471 cũng không phải là một chính quyền chặt chẽ cho lắm.
[8] Năm Canh Ngọ 1630, ông Đào Duy Từ chủ xướng việc thiết kế và chỉ đạo xây dựng hai công trình phòng thủ quan trọng là lũy Trường Dục ở huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình (1630) và lũy Thầy từ cửa sông Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu (Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình), kể từ đây xin gọi chung là lũy Trường Dục.
[9] Xem thêm các dẫn chứng ở các chương nội dung.
[10] Dẫn theo Li Tana, Xứ Đàng Trong, nxb Trẻ năm 1999, trang 40
[11] Được biết các nhà nghiên cứu dân tộc học liên ngành phương Tây đã đi những bước rất dài trong việc nghiên cứu bản sắc văn hóa và dân tộc học, khái niệm lịch sử từ đó cũng đã thay đổi nhiều, không còn là những thao tác trên các nguồn sử liệu nữa. Tiếc thay ở Việt Nam những sách dạng này hầu như chưa được dịch. Khi chúng tôi bắt tay làm công trình này cũng không hề được sự hướng dẫn hoặc tham khảo từ nguồn nghiên cứu dân tộc học nào, điều đó thật đáng tiếc, chắc chắn sẽ khiến đôi chỗ rơi vào sự ngô nghê không đáng có hoặc lặp lại những điều người trước đã làm kỹ rồi, hoặc như tốn công vào chỗ lẽ ra không phải tốn công như thế. Hy vọng những tài liệu này sẽ sớm được dịch và đưa vào giáo trình ở các trường đại học.  

Nhận xét :

Đăng nhận xét