3. Vấn đề thế hệ.

II. VẤN ĐỀ THẾ HỆ

Có một thực tế diễn ra vào thời các vua Nguyễn là: Sau những năm dài chiến tranh, loạn lạc (200 năm phân tranh Trịnh-Nguyễn rồi cuộc nổi dậy của nhà Tây Sơn, chiến tranh giữa chúa Nguyễn với Tây Sơn, Tây Sơn với những cuộc bắc tiến và với nhà Thanh), làng xóm trở lại cảnh thanh bình. Những lễ tục được phục hồi, các dòng họ cũng bắt đầu chú ý đến gốc gác, phổ hệ. Một phong trào viết gia phả nổi lên khắp nơi, mạnh nhất là dưới thời Tự Đức, phát sinh một sự tranh giành tộc to, họ lớn[1]; tranh nhau tiền hiền khai canh, lập ấp. Ai cũng muốn mình là người đầu tiên đặt chân lên mảnh đất làng này từ 1471 nên số đông các gia phả ở Quảng Nam đều ghi: Ngài (Họ) Quý Công đã theo vua Lê Thánh Tông bình Chiêm năm Hồng Đức nhị niên định cư ở lại làng...từ thời đó. Ở Quảng Nam hiện nay rất khó để tìm ra một gia phả nào đó có bản gốc được viết từ trước nhà Nguyễn 1802 mà thường là được lập lại, tu bổ, chép lại dưới thời Tự Đức về sau, và điều này đã tạo nên không ít khó khăn cho công cuộc nghiên cứu lịch sử xứ Đàng Trong nói chung và gia phả tộc họ nói riêng.
Có thể tìm ra rất nhiều những ví dụ như vậy, ví dụ như gia phả họ Huỳnh (Hoàng) làng Xuân Đài (Điện Bàn, Quảng Nam, một dòng họ danh gia vọng tộc với những người như Thống đốc thành Hà Nội Hoàng Diệu) ghi rằng: “Niên Hiệu Hồng Đức năm thứ 30 (thực ra là Hồng Đức nhị niên) đánh lấy Chiêm Thành mới đặt ra Quảng Nam đạo thừa tuyên và ông Thỉ Tổ của chúng ta (người tỉnh Hải dương) di cư vào nam từ thuở đó...lập nên cơ nghiệp lưu hạ đến nay đã hơn 10 đời”[2]. Gia phả này viết năm Tự Đức 34, tức 1881, lui về trước 10 đời, ước chừng 25 năm một đời tức là 250 năm, vậy ông Thỉ Tổ dòng họ này vào Quảng Nam khoảng năm 1639, cách Lê Thánh Tông bình Chiêm đến 132 năm, tức gần 6 thế hệ! Rõ ràng họ Huỳnh làng Xuân Đài khó có thể phản đối lập luận này. Con số 1639 của họ Huỳnh cũng là một con số khá lý thú và chúng ta sẽ trở lại con số này một lần nữa sau này.
Một trường hợp khác, hầu như tất cả các trường hợp họ Lê ở Quảng Nam - Đà Nẵng được dẫn trong "Nhân vật họ Lê trong lịch sử Việt Nam" (NXB. Đà Nẵng năm 2001) đều bắt đầu bằng câu: “Tổ từng theo vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, sau đại thắng bình Chiêm mùa xuân năm 1471 Tổ được vua sai phái ở lại trấn trị vùng đất thuộc Chiêm Động, sau được phong chức Bình Chiêm triệu Quốc Công” thế nhưng hầu hết 214 phái hệ tộc Lê ở Quảng Nam Đà Nẵng đều ghi rằng đến nay đã lưu hạ được 18-19 thế hệ. Nếu vậy thì mỗi thế hệ sẽ là 28 năm, một con số khó thể chấp nhận vì theo lệ thường người Việt Nam lập gia đình và có con sớm, trên dưới 20 tuổi.
Chính vì vậy vấn đề số năm của mỗi thế hệ là một vấn đề cực kỳ quan trọng qua đó sẽ giải đáp cho chúng ta nhiều vấn đề đã gần như bế tắc vì thiếu những cứ liệu đáng tin. Vậy thì chúng ta nên lấy số năm cho mỗi thế hệ là bao nhiêu để có thể khả dĩ tin cậy được? Các nhà nghiên cứu phương Tây thường lấy con số 30 năm cho mỗi thế hệ[3] nhưng với người Châu Á nói chung và người Việt Nam chúng ta nói riêng với phong tục "Lấy chồng từ thuở mười ba. Đến năm mười tám thiếp đà năm con. Ra đường thiếp hãy còn son. Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng" thì liệu con số 30 năm cho mỗi thế hệ có thích hợp?
Trường hợp người cháu đời thứ 31 của hoàng tử Lý Long Tường ở Hàn Quốc đến Việt Nam nhận lại quốc tổ cho ta một ví dụ đáng tin cậy và khó ai không đồng ý. Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh năm 1225 và hoàng tử Lý Long Tường đã chạy trốn bàn tay "nhổ cỏ tận gốc" của Trần Thủ Độ đã đến Triều Tiên vào năm này để bắt đầu một dòng họ mới. Thật kỳ lạ, đúng vào năm 2000 người cháu đời thứ 31 đã trở về Việt Nam để cho chúng ta một con số bình quân chính xác là 25 năm cho mỗi thế hệ mà không cần đến số lẻ hoặc cộng trừ vài năm như thường gặp!
Đó là một trường hợp chắc chắn gia phả được ghi một cách chính xác và chúng ta có thể tin được; hơn nữa đó là của châu Á, của người Triều Tiên, một xứ lấy Nho giáo làm trọng như Việt Nam. Thế nhưng, Triều Tiên là xứ lạnh, liệu phong tục tập quán kết hôn và sinh con đẻ cái của họ có giống với Việt Nam? Liệu có thể áp dụng con số ấy vào Việt Nam được không? Và riêng vùng Quảng Nam liệu có gì khác biệt? Sẽ có ý kiến cho rằng cứ việc lấy các tộc họ lâu năm, có gia phả rõ ràng và nổi tiếng như Đinh, Lê, Lý, Trần, Hồ... ở vùng đồng bằng Bắc bộ ra tính thì ta sẽ dễ dàng có con số năm bình quân cho mỗi thế hệ chứ không cần phải tính riêng ở vùng Quảng Nam. Dĩ nhiên là như vậy rồi, thế nhưng khi đặt vấn đề rằng khi tính bình quân ta sẽ có con số khác nhau khi số chia lớn nhỏ khác nhau. Một dòng họ 40-50 đời sẽ có con số bình quân cho mỗi thế hệ khác với một dòng họ chỉ có 7-8 đời. Ở Quảng Nam các dòng họ khảo sát đều ít hơn 26 đời, phổ biến là 16-18. Con số này nói điều gì và nó có thật đáng tin cậy? Đặt riêng Quảng Nam thành một vùng để khảo sát chúng tôi hy vọng rằng qua đó sẽ giúp ta giải thích được một số điều không thể giải thích được bởi thiếu các cứ liệu đáng tin cậy.
Thật ra ở đây vấn đề này không khó, chính vì dễ nên cho đến nay gần như chẳng có một công trình nào về vấn đề này khả dĩ được công nhận một cách khoa học để ai cũng có thể dựa vào đó mà tính toán khi làm gia phả, mỗi dòng họ thường tự chọn cho mình một số năm để kiểm tra lại các sự kiện được ghi trong gia phả, hoặc trong trường hợp không có ngày tháng cụ thể thì lấy nó để ước tính năm vị thỉ tổ sáng lập nên dòng họ ở đất mới. Có nơi 30 năm, có nhà 27 năm, có họ 25 năm, có người 23,5 năm, thậm chí có nơi chỉ 20 năm.
Ở đây ai cũng biết là số lượng gia phả được xét càng nhiều thì con số bình quân sẽ càng chính xác. Chính vì nó đơn giản và dễ thực hiện nên chúng tôi đã có một cuộc khảo sát nhỏ ở vùng Quảng Nam và đã nhận ra nhiều chuyện khá lý thú. Tiêu chí đặt ra là chỉ xét đến những trường hợp có gia phả rõ ràng và xác định được năm vị thỉ tổ đến Quảng Nam bằng những nguồn sử liệu đã được khẳng định. Vấn đề là ta sẽ tính thế hệ đầu thế hệ cuối như thế nào đây để khả dĩ có thể gần với sự thật nhất? Ta hãy tạm lấy một ví dụ cụ thể như sau để dễ hiểu: Ông cố tôi là Hồ Trung Lượng sinh năm 1858, tôi Hồ Trung Tú sinh 1958, vừa chẵn 100 năm cho bốn đời (Đây là ví dụ cụ thể và tròn chẵn năm ngoài ra không có ý gì khác, và dĩ nhiên thế hệ anh, em, chú, bác nhà tôi có người hơn tôi 5-10 tuổi và cũng có người nhỏ hơn tôi 5-10 tuổi ta xem như cộng trừ 5-10, nếu nhiều đời thì con số cộng trừ sẽ ít dần đi vì qua nhiều năm người sinh sớm cùng với người sinh muộn sẽ bình quân dần). Nếu năm nay tôi đủ lớn để sinh con thì con tôi sẽ là thế hệ thứ năm. Vấn đề đặt ra là ta có nên tính thế hệ (thứ năm) mới sinh vào phép tính hay không? Cũng là bốn đời nhưng nếu tính từ khi ông cố tôi mất đến khi tôi, thế hệ thứ tư sinh ra thì chỉ có 50 năm. Còn nếu tính từ khi ông cố tôi sinh đến tôi 70 tuổi thì sẽ là 170 năm! Lệch nhau đến 120 năm! Nếu 20 thế hệ mà lệch nhau đến 120 năm thì cũng đã khó mà chấp nhận và sẽ khó mà rút ra được điều gì khả dĩ có thể dùng để tính toán trong việc xác định các sự kiện trong gia phả học và lịch sử. Trong ví dụ nêu trên ta thấy, vấn đề chỉ là xác định cái mốc của thế hệ đầu và thế hệ cuối, các thế hệ giữa có thể bỏ qua, không quan tâm đến; nếu tính thế hệ thứ nhất từ khi ông cố tôi sinh ra đời thì thế hệ cuối, là tôi, cũng phải tính từ khi mới sinh ra đời. Còn nếu tính từ khi ông cố tôi trưởng thành, thì tôi cũng phải tính đến khi trưởng thành. Cần phải loại thế hệ con tôi đi. Vấn đề đặt ra ở đây là thế hệ cuối mấy tuổi thì được tính là một thế hệ? Chưa có một tiền lệ nào trong việc này chúng tôi xin đề xuất tuổi của thế hệ cuối là 18 tuổi, tuổi khi bắt đầu lập gia thất với cái mốc là năm 2002 (một năm nào khác cũng được nhưng năm 2002 ta sẽ có con số tròn năm đối với các sự kiện quan trọng trong lịch sử Nam tiến như 1306, 1402, 1472, 1602, 1802). Khi các cụ tiền hiền vào Nam và là thỉ tổ các dòng họ thì rõ ràng các ngài đã lớn tuổi và chúng ta cũng không biết năm sinh của các ngài mà chỉ biết năm các ngài vào Nam. Tóm lại thế hệ thứ nhất sẽ là thế hệ các vị tiền hiền vào nam và thế hệ cuối sẽ là thế hệ đến năm 2002 là 18 tuổi.
Thứ nữa là vấn đề chọn chi, phái nào để tính. Cùng một ông tổ nhưng chi này mới 10 đời nhưng chi khác đã 16-17 đời. Nếu dòng trưởng nam, dòng mà người miền Trung thường gọi là dòng Thế tổ, phái nhất, chi nhất. Dòng này thường kết hôn sớm, thường là trên dưới 18 tuổi đã kết hôn nên số đời dòng trưởng nam thường là rất lớn. Ngược lại các dòng thứ, nhất là trai út, số tuổi người cha khi sinh trai út thường là rất lớn, thường là 40-50, thậm chí 60 tuổi không phải là hiếm.Ví dụ như tộc Phan “Minh Đức”, làng Phong Thử, Điện Thọ, Điện Bàn có ông Phan Thúc Duyện, một nhân vật lớn của phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh khởi xướng, là người thuộc đời thứ 10. Theo bà Phan Thị Lan con gái út ông Phan Thúc Duyện thì bà là đời 11 nhưng trong họ đã có người thuộc đời 17, đời 18. Gia phả chép Đức thỉ tổ của dòng họ vào Nam dưới đời vua Lê Trang Tông 1573. Bình quân ta có 25 năm/một thế hệ. Vấn đề lý thú là trong tộc chỉ hai chị em bà Lan là người duy nhất còn lại của đời thứ 11, các cụ ông trên dưới 80 tuổi trong tộc đều phải gọi bà bằng Bà và hết mực kính trọng. Nhìn kỹ vào gia phả ta thấy ông Phan Thúc Duyện là con thứ 10 của ông Phan Thúc Quý, bà Lan là con gái út được sinh khi ông Phan Thúc Duyện đã 58 tuổi. Nếu lấy trường hợp bà Lan để tính thì ta có số năm bình quân cho mỗi thế hệ là 39,1 năm! Tính riêng từ ông nội đến bà đã có đến 120 năm! Rõ ràng lấy những trường hợp như thế để tính chúng ta sẽ không đi đến đâu và sẽ không bao giờ có thể thống nhất được vấn đề số năm cho mỗi thế hệ. Trong khi đó nếu lấy chi phái có số đời nhiều nhất để tính chúng ta sẽ dễ dàng thống nhất hơn bởi phong tục và sinh lý người Việt Nam ta thường đàn ông trên dưới 20 tuổi thì thành lập gia thất, con đầu lòng được sinh ít khi người cha dưới 20 tuổi. Ở dòng trưởng nam liên tục ta sẽ có các trường hợp người có con sớm và người có con muộn, có người trưởng nam là con trưởng nhưng cũng có người trưởng nam là con út trong nhà. Bình quân lại ta sẽ có con số dễ dàng chấp nhận. Vấn đề rõ ràng là không quá khó để đồng thuận.
Một tộc đặc biệt và được ghi chép cẩn thận nhất ở Đàng Trong là tộc Nguyễn với chín đời chúa, mười ba đời vua Nguyễn. Chúng ta hãy bắt đầu với năm 1558, năm Chúa Tiên Nguyễn Hoàng 33 tuổi vào trấn đất Thuận Hóa và bắt đầu sinh con (sinh chúa Sãi năm 1563). Chín đời chúa nhưng thật sự chỉ có 8 thế hệ cha truyền ngôi cho con, Gia Long đồng đời với chúa thứ chín Định Vương Nguyễn Phước Thuần. Gia Long truyền ngôi trực hệ cho con trưởng đến Tự Đức và sau đó các vua kế ngôi rất rối ren với những cuộc truất phế rồi tôn phù của các loạn thần với những sự kiện, thời kỳ nhũng nhiễu như bốn tháng ba vua (tứ nguyệt tam vương), nên chúng ta sẽ dừng lại ở đời vua Minh Mạng là thứ 10 rồi tính tiếp các đời sau bằng ngự chế của vua Minh Mạng quy định tên đệm cho các đời ở bài Đế hệ Thi:
Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh
Bảo Quý Định Long Trường
Hiền năng Kham Kế Thuật
Thế Thụy Quốc Gia Xương.
Vào năm 2002 ta có trường hợp sớm nhất là anh Nguyễn Phúc Quý Tiết, trực hệ của dòng vua Thành Thái, đang ở phố Phan Châu Trinh thành phố Huế, đã có cháu nội lấy chữ lót là Long lên 5 tuổi. Vậy ta dừng lại ở thế hệ con anh Quý Tiết có chữ lót là Định. Như vậy từ Nguyễn Hoàng đến các con cháu có chữ lót là Định tổng cộng là 18 đời. 1558 đến 2002 là 444 năm, bình quân mỗi thế hệ là 24,6 năm.
Một tộc họ nổi tiếng ở Đà Nẵng với cuốn gia phả độc đáo được ghi từ thời ông tổ Phan Công Thiên sinh ngày mồng 6 tháng giêng năm Mậu Ngọ 1318 đến nay không bỏ sót thế hệ nào, đó là tộc Phan làng Đà Sơn xã Hòa Khánh, quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng. Điểm có thể xác định của cuốn gia phả này là sự kiện vua Trần Minh Tông gả cho con gái Trần Ngọc Lãng. Phan Công Thiên đến Đà Sơn với chức của vua Trần ban cho là “Đô chỉ huy sung thập tam châu kinh lược chiêu dụ xử trí sứ” vào năm 1346. Đến nay, sau 656 năm, tộc họ này đã có con cháu đời thứ 27, bình quân ta có 24,2 năm cho mỗi thế hệ. Đây là một cuốn gia phả đặc biệt và chúng ta sẽ dành một chương cho nó.
Gia phả tộc Hồ làng Cẩm Sa xã Điện Nam, huyện Điện Bàn ghi chép rằng thỉ tổ dòng họ đã vào Nam từ năm 1402 dưới cuộc vận động di cư vào Nam dưới triều Hồ Hán Thương (1402-1407) và vị thỉ tổ này là bác ruột của Hồ Quý Ly có nguồn gốc ở làng Tỉnh Gia - Thanh Hóa. Họ Hồ là một họ danh gia vọng tộc thời đó. Ít nhất đã có một thời làm vua của đất nước nên chắc chắn người có chữ, có học là không thiếu và hơn nữa ý thức về sự vinh quang của dòng họ sẽ khiến họ ghi chép gia phả khá kỹ, khó mà có thiếu sót. Và có một điều khiến ta có thể tin được chính là việc ghi chép tên họ đầy đủ, không xảy ra trường hợp khuyết danh của một thế hệ nào, nhất là dòng trưởng nam, thường gọi là dòng Thế tổ. Nếu ở đây có xảy ra việc thêm đời để trở thành một tộc to, họ lớn thì khó ai mà dám sáng tác ra tên họ ông bà, mà thường là khuyết danh một hai thế hệ nào đó. Theo gia phả họ Hồ Cẩm Sa thì đến năm 2002 đã có được đời thứ 26. Từ 1402 đến 2002 là 600 năm, chia cho số đời của người đến năm 2002 là 18 tuổi là 25 (thế hệ thứ 26 đã có nhưng còn nhỏ, phần lớn chưa đến 18 tuổi), ta có con số là 24 năm/mỗi thế hệ.
Họ Ngô ở Viêm Đông, Điện Ngọc, Điện Bàn, Quảng Nam gia phả ghi gốc gác là ở Phú Lộc Thừa Thiên Huế vào Quảng Nam từ thời Tây Sơn, lưu hạ đến nay được 10 đời, ta có con số: 1770 đến 2002 là 232 năm/ 10 đời, vậy 23,2 năm/mỗi thế hệ
Họ Mai Phước ở làng La Huân xã Điện Thọ, huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam có ông Mai Đình Dõng được Nguyễn Hoàng phong làm tổng trấn Quảng Nam năm Tân Mùi 1571[4]. Gia phả ghi Mai Đình Dõng là cháu nội của ông Mai Phước Thông, thỉ tổ tộc Mai ở Quảng Nam, và tộc Mai lưu hạ đến nay được 19 đời. Trừ hai đời của ông và cha chưa xác định năm vào Nam, từ Mai Đình Dõng đến nay là 17 đời. Bình quân ta có 430/17=25,2 năm/mỗi thế hệ.

Đến đây ta thấy là đã có thể chấp nhận được là trung bình ở mỗi thế hệ từ 23,5 đến 25. Đây là con số tạm chấp nhận chứ rõ ràng vấn đề cần phải có một công trình nghiên cứu khoa học với các cuộc điều tra nghiên cứu cũng như phân tích, thống kê trên số lớn, diện rộng mới đủ sức thuyết phục các vị trưởng lão các tộc họ, nhất là khi gia phả họ đã ghi con số bình quân là 30, thậm chí là 40 năm một thế hệ!
Trở lại trường hợp họ Huỳnh làng Xuân Đài, nếu trả lại con số trung bình là 23,5 năm/một thế hệ ta sẽ biết được năm ông thỉ tổ dòng họ vào Nam, 1881 trừ 235 năm, đó là năm 1646, cách Lê Thánh Tông vào Nam đến 180 năm, gần 8 đời. Nếu họ Huỳnh làng Xuân Đài cứ khăng khăng rằng mình vào từ 1471 thì họ phải tìm cho ra ít nhất 7 thế hệ cha ông nữa không ghi trong gia phả!
Gia phả tộc Lê Mân Thái quận Sơn Trà, Đà Nẵng chép rằng: “Tổ là đại thần trấn Thanh Hóa Lê Hòa, còn gọi Lê Công Hào, là cháu chín đời của Thái tổ hoàng đế Lê Lợi, cháu bảy đời của Lê Thánh Tông, là con của Văn Tuấn hầu Lê Xích; đã vượt biển (?) vào Nam năm 1651 và truyền nối đến nay 14-15 thế hệ”. Đây là những dòng có thể tin được và cho ta phép tính từ Lê Thánh Tông đến nay là 7­­+15 =22 thế hệ, trung bình mỗi thế hệ là 24,1 năm.
Ở đây sự kiện đại thần trấn Thanh Hóa Lê Hòa vì lý do gì mà vượt biển vào Nam sẽ là một câu hỏi lớn tộc Lê Mân Thái cần phải trả lời và chúng ta sẽ khảo sát kỹ sự kiện này ở chương bàn về lũy Trường Dục, và chi tiết vượt biển cho chúng ta một ví dụ lý thú vì lúc ấy, 1651, quả thật không ai có thể vào Nam bằng đường bộ, vượt tuyến lũy Trường Dục được [5].
Khi đã có con số chuẩn về số năm của mỗi thế hệ chúng ta sẽ dễ dàng xét lại các sự kiện ghi trong các gia phả để hiệu chỉnh lại cho chính xác hơn.
Ví dụ như gia phả tộc Mai Trường Định kể bà tổ dòng họ là Phạm Thị Kim Xuyến do loạn lạc dưới thời chiến tranh với họ Trịnh (1627-1672) nên bà dẫn 3 người con trai về sống ở Trường Định, lập nên tộc Mai Trường Định lưu hạ đến nay được 9 đời. Ông Mai Phước Ngọc cho rằng mỗi đời là 30 năm nên hoàn toàn ứng với năm 1627. Còn nếu theo bình thường 23,5 năm một thế hệ thì đó sẽ là năm 1791. Nếu chấp nhận 23,5 năm một thế hệ thì tộc Mai Trường Định phải tìm lý do để bà tổ tộc mình rời quê La Huân để đến Trường Định phải gắn liền với các sự kiện của năm 1793, năm Tây Sơn chiếm Quảng Nam gây nên những biến động to lớn trong đời sống chứ không phải là những sự kiện của các năm 1627 như ông Mai Phước Ngọc đã ghi trong “Sơ thảo lịch sử tộc Mai La Huân”. Đó là chưa nói chuyện 8 thế hệ ở La Huân được tính trong thời gian từ 1471 đến 1623 là 152 năm, bình quân chỉ 19 năm. Như vậy cùng trong một dòng họ nhưng từ đời 1 đến 8 thì 19 năm một thế hệ nhưng từ đời 9 đến 17 thì tính 30 năm cho mỗi thế hệ! Mâu thuẫn này rõ ràng là do dòng họ đã xác định sự kiện bà Phạm Thị Kim Xuyến về Trường Định là không đúng.
Nhân đây chúng tôi xin đề nghị tộc Mai Trường Định nên lấy năm bà Phạm Thị Kim Xuyến theo sự kiện ông anh cả của bà Phạm Thị Kim Xuyến là ông Phạm Công Thùy, có con là Phạm Công Bảo, con ông Bảo sinh bà Phạm Thị Kiều Oanh là vợ thứ vua Khải Định. Bà Kiều Oanh gọi ông Mai Phước Tồn cháu nội bà Kim Xuyến là dượng, chồng cô ruột. Vậy bà Kiều Oanh là cháu gọi ông Thùy bằng ông cố, cách nhau trung bình 100 năm. Vua Khải Định sinh năm 1885, mất năm 1925, ta tạm lấy năm 1910 ông cưới vợ thứ là bà Kiều Oanh. Trước đó 100 năm là 1810, bà Phạm Thị Kim Xuyến đến Trường Định trước sau 1810 vài năm chứ không phải 1627 như sơ thảo lịch sử tộc Mai La Huân đã ghi. Và theo sự kiện này để xác định thì ta sẽ có số năm trung bình cho mỗi thế hệ tộc Mai ở Trường Định sẽ là 200 năm chia cho 9 thế hệ là 22,2 năm mỗi thế hệ.




[1] Minh Mạng năm thứ 14, 1833, có chiếu dụ về việc “nghiêm cấm các tộc họ dùng tùy tiện những chữ tước Công, Hầu, Bá, Tử, Nam. Nếu đã trót đem tước hiệu khắc vào thần chủ, bia đá thì cho để như cũ, duy văn tế và giấy tờ thì không được xưng hô theo thói cũ, để chính danh phận”. Đại Nam thực lục - NXB. Giáo dục 2004- tập 3, trang 676. Chiếu dụ này cho thấy việc tôn xưng danh phận tổ tiên, tiền hiền với phẩm cao, tước trọng là khá tùy tiện ở các làng xã.
[2] Gia phả tộc Huỳnh làng Xuân Đài, Điện Bàn Quảng Nam.
[3] Một ví dụ chúng tôi có được là tiểu thuyết Cội Rễ của nhà văn Mỹ Elicx Heili, gia phả của dòng họ đã được tính bình quân là 30 năm cho mỗi đời.
[4] Khâm định Việt sử thông giám cương mục, NX.B GD năm 1998, tập 2, trang156 chép Mai Đình Dõng là Mai Đình Dũng, và gia phả tộc Mai Phước La Huân ghi ông tên thật là Mai Phước Hoà, và bia mộ khẳng định đó là cách đọc khác nhau chứ bia mộ của Mai Đình Dõng ở La Huân ghi rõ ông là tổng trấn Quảng Nam.
[5] Hệ thống lũy thành ở Quảng Bình trong chiến tranh Trịnh Nguyễn có nhiều lũy xây vào những giai đoạn khác nhau, chúng tôi chọn tên “lũy Trường Dục” này để gọi chung cho cụm các lũy gồm lũy Nhật Lệ, lũy Đồng Hới, lũy Thầy, lũy Đào Duy Từ, lũy Trường Dực và lũy Trường Dục.

Nhận xét :

  1. Anh Tú luận lý về khung khoảng cách thời gian mỗi thế hệ trong hệ phả các dòng họ rất thuyết phục nhờ tính khoa học gắn với thực tế. Chuyện tổ sử nhiều dòng phái các họ nhại theo cái khuôn mẫu" theo chân Lê thánh Tôn vào Nam mở cõi năm 1471, ông Phạm Z, Lê X đã khai lập làng xóm, ruộng đồng, sanh tạo con cháu đến nay(2017) có đến đời 15, 16."!!!
    Chỉ cần thực hiện nhanh một phép toán trừ, một phép toán nhân, thì "tính chân thật" của các"công trình nghiên cứu" tộc sử phải "cứng họng".

    Trả lờiXóa

Đăng nhận xét