2 . Địa giới

ĐỊA GIỚI

Ban đầu, giới hạn không gian mà chúng tôi dự định khảo sát là nguyên vẹn tỉnh Quảng Nam bao gồm thành phố Đà Nẵng hiện nay, kéo dài từ Nam đèo Hải Vân đến hết huyện Núi Thành; thế nhưng trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận ra sông Thu Bồn, tức sông Chợ Củi trong các thư tịch cổ, thực sự đóng vai trò quan trọng, phân chia tỉnh Quảng Nam ra làm hai phần Bắc Quảng Nam và Nam Quảng Nam với những đặc điểm lịch sử không thể nhập làm một.


Đó chính là vì Bắc sông Thu Bồn[1] đến Nam Hải Vân đã thuộc Việt Nam ngay từ 1306, còn Nam sông Thu Bồn chỉ thuộc vào Việt kể từ 1402, nhưng chỉ trong vòng 5 năm rồi sau đó trở lại với Chămpa, mãi đến 1471 mới thực sự thuộc vào Việt vĩnh viễn. Gần 170 năm là quãng thời gian quá dài để đến nay ta thấy giọng nói của người Quảng Nam ở Nam sông Thu Bồn (bao gồm các huyện Quế Sơn, Thăng Bình, Tiên Phước, Hiệp Đức, Tam Kỳ, Núi Thành) khác khá rõ với giọng nói người ở Bắc sông Thu Bồn (bao gồm các huyện Hoà Vang, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Hội An và TP. Đà Nẵng). Sự khác nhau này rõ ràng là biểu hiện của 170 năm chia cắt, chúng ta sẽ khảo sát kỹ hơn trong chương nói về giọng nói người Quảng Nam.
Sự khác biệt này mạnh mẽ đến mức sau 1471, khi đất nước đã kéo dài đến hết tỉnh Bình Định, Lê Thánh Tông phân chia lại các đơn vị hành chính thì Bắc Quảng Nam, vẫn thuộc Thuận Hóa bất kể sự trở ngại do đèo Hải Vân gây ra. Thậm chí điều này còn tiếp tục mãi cho đến 1604 Bắc Quảng Nam mới tách khỏi Châu Hóa thuộc vào Quảng Nam đến ngày nay.
Dưới góc nhìn này, chúng ta thấy quả thật, sông Thu Bồn đã đóng một vai trò không hề nhỏ trong suốt chiều dài lịch sử, góp phần tạo nên những vùng bản sắc khác nhau, không thể bỏ qua trong bất cứ nghiên cứu nào về tỉnh Quảng Nam.
Trong lịch sử, trước khi thuộc Việt, đây là vùng đất thuộc Chiêm Thành[2], một quốc gia gồm nhiều vương triều hình thành từ thế kỷ 2 sau công nguyên kéo dài đến thế kỷ 15-16. Trước thế kỷ 10 kinh đô Chiêm Thành đóng ở vùng Trà Kiệu nay thuộc xã Duy Sơn huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam. Các nhà nghiên cứu đất nước Chămpa người Pháp và cả các nhà nghiên cứu sau này, đều hầu như thống nhất rằng các giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của đất nước Chiêm Thành chính là thời kỳ mà kinh đô còn đóng trên vùng đất Quảng Nam hiện nay. Điều này chắc chắn sẽ có một số ý nghĩa nhất định nào đó tác động đến bản sắc lịch sử để hình thành nên bản sắc văn hóa của vùng đất này.
Năm 1306, thời Trần, vùng đất này sát nhập vào Đại Việt, thuộc châu Hóa (lỵ sở thành Hóa Châu đóng ở ngoại ô thành phố Huế hiện nay); trở thành huyện Điện Bàn thuộc thừa tuyên Thuận Hóa thời Lê, phủ Điện Bàn thừa tuyên Quảng Nam thời chúa Nguyễn; ngày nay là địa bàn các huyện và thành phố như đã nói.
Khoanh sự khảo sát lại ở vùng Bắc Quảng Nam chúng tôi cũng đã chọn lấy vùng đất mà sự tranh chấp giữa Đại Việt và Chămpa diễn ra quyết liệt và dai dẳng nhất. Các tỉnh như Quảng Ngãi, Bình Định sự tranh chấp cũng có xảy ra nhưng đã không quyết liệt và dai dẳng bằng. Trong 100 năm đầu tiên, 1306 - 1402, người Việt là số ít, hoàn toàn chịu ảnh hưởng của người Chàm. Nhưng trong 7 năm dưới thời nhà Hồ thì người Việt tràn vào với số đông và hoàn toàn cai trị vùng đất này. Thế nhưng khi thuộc Minh thì người Chàm lại hoàn toàn làm chủ đất này cho đến 1471 Lê Thánh Tông bình Chiêm thì người Việt mới quay lại thực sự quyền thống trị. Sau 1471 thì người Việt lại nắm lấy quyền lực nhưng chính quyền chưa đủ mạnh để có thể hoàn toàn điều khiển xã hội, các tổng trấn đều được gọi là “thổ quan” như trường hợp Bùi Tá Hán trong Sử Ký Toàn thư đã gọi. Đây là giai đoạn hai cộng đồng Việt - Chàm sống tương đối bình đẳng với nhau cho đến khi Nguyễn Hoàng vào Nam. Ở các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định sự việc có thể cũng đã diễn ra một cách tương tự nhưng chắc chắn là ở cấp độ ít gay gắt hơn vì người Chàm luôn là số đông, người Việt vào trước 1402 xem như rất ít, không đáng kể. Sau 1402, 7 năm dưới thời nhà Hồ người Việt có vào nhưng có lẽ rút đi nhanh chóng khi nhà Hồ sập. Ở các tỉnh này hoàn toàn không tìm thấy dòng họ nào có số đời 25-27 như một số tộc họ ở Quảng Nam. Người Việt thực sự đến các tỉnh này kể từ sau 1471 và từ ít đã nhiều lên dần bên cạnh số lượng người Chàm đông đúc. Những nhận định này rõ ràng cần được chứng minh. Xin xem các chương nội dung.
Ở bề ngang chúng ta cũng cần phải xác định biên giới khảo sát. Các sử liệu và ghi chép đã biết đều chủ yếu tập trung vào mô tả đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của các vùng dân cư thị tứ ven biển và hầu như bỏ qua các vùng nông thôn xa về phía tây, nhất là các xã, huyện thuộc vùng trung du như Tiên Phước, các xã miền tây huyện Quế Sơn, các xã vùng B huyện Đại Lộc.
Chạy suốt chiều dài ven biển tỉnh Quảng Nam hiện nay là sông Trường Giang. Đây là con đường giao thông huyết mạch quan trọng và chủ yếu của Đại Việt và Đàng Trong trong tất cả các thời kỳ. Các tàu bè giao thông đường thủy nội địa thường chọn con đường trên các sông hoặc đầm phá ven biển. Phủ Biên Tạp Lục cho thấy con đường thiên lý lúc ấy là những chặng đi bộ nối tiếp những chặng đi ghe, thuyền. Dọc sông Cổ Cò từ Đà Nẵng vào Hội An, cũng như sông Trường Giang từ Hội An vào đến Bến Ván, Núi Thành hiện nay chúng ta còn nhìn thấy rất nhiều ngôi mộ cổ của người Việt giai đoạn thế kỷ 15 đến 17. Chùa Vạn Đức, một trong những chùa cổ nhất ở Hội An xây dựng đầu thế kỷ 17 đã có hướng chính là hướng ra sông Cổ Cò. Khi sông Cổ Cò bị bồi lấp chùa mới sửa hướng theo đường bộ như chúng ta thấy hiện nay. Trên cái trục giao thông đường thủy quốc gia này các làng xóm, thị tứ đã hình thành và được ghi chép, mô tả trong tất cả các sử liệu trong nước cũng như các ghi chép của các thương nhân, tu sĩ phương Tây mà chúng ta đã biết, về vùng đất này.
Trong khi đó, cách sông Trường Giang, sông Cổ Cò chừng trên dưới 20 cây số về phía tây, các làng xóm dân cư đều vắng bóng trong tất cả các sử liệu hoặc các ghi chép đã biết. Chúng ta không có cứ liệu để có thể nói rằng khi người Việt đến các vùng đất này, cho dù là thời kỳ nào đi nữa, thì đó là vùng rừng núi hoang vu, và họ là người đầu tiên đến để khai phá hay nơi đó đã có những làng xóm của người Chàm đã sinh sống hàng trăm năm trước đó. Chúng ta gặp rất nhiều những câu như: Thỉ tổ dòng họ.. đã đến nơi này khai canh lập ấp, khẩn hoang lập điền.v.v... trong hầu hết các gia phả ở Quảng Nam, nhưng không phải vì thế mà chúng ta tin rằng họ đã thực sự đặt chân đến một nơi hoang địa, rừng rú rậm rạp, không bóng người. Người Chàm đã sinh sống trên vùng đất này từ nhiều trăm năm trước và dấu vết của họ để lại có thể nói là khắp nơi. Làng Thanh Quýt dày đặc các di tích Chàm, vùng B Đại Lộc cũng nhiều lắm những “mỏ” gạch Chàm chìm trong đất. Không thể nói những vùng đất đai trù phú, màu mỡ ấy người Chàm đã bỏ đi hết khi người Việt đến. Họ có ở lại hay không và họ ở lại những đâu, đến năm nào thì mới thực sự biến mất? là những câu hỏi sớm hay muộn cũng cần phải được trả lời. Dấu ấn những người ở lại khi va chạm với cộng đồng người Việt không khỏi đã để lại những dấu vết (nếu ta hình dung đó là hai cộng đồng tộc người không thể hòa nhập) là như thế nào?
Và đó là mục đích mà chúng ta sẽ cố công tìm hiểu, hay chí ít, đặt những viên đá đầu tiên trên con đường tìm hiểu những gì đã xảy ra trên vùng đất này suốt từ 1306 đến 1802.






[1] Sông Thu Bồn hiện nay hạ lưu chia làm hai nhánh là sông Thu Bồn và sông Bà Rén. Chưa có khảo sát địa mạo để biết cách nay 700 năm dòng chính sông Thu Bồn chảy theo hướng nào, tức biên giới Đại Việt sau đám cưới công chúa Huyền Trân, thế nhưng theo những nét khác nhau trong ngữ âm của Bắc và Nam sông Bà Rén chúng tôi xin chọn sông Bà Rén là giới hạn phía Nam không gian khảo sát (tức thêm vào không gian khảo sát huyện Duy Xuyên vì rõ ràng giọng nói, ngữ âm của người Duy Xuyên là hoàn toàn trùng khớp với giọng nói, ngữ âm của người Bắc Quảng Nam). Hơn nữa sông Bà Rén trước đây còn có tên là sông Ly Ly, theo chữ Hán, Ly có nghĩa là lìa ra, bờ rào, phên giậu... và theo chúng tôi điều đó không phải là không có nghĩa đối với dòng sông có vai trò chia cắt đất nước Chămpa (chí ít là trong mắt người Chămpa giai đoạn đó) suốt 170 năm.
[2] Trước nữa, theo các kết quả nghiên cứu khảo cổ học thì vùng đất này đã có người cổ thuộc thời đá mới sinh sống, nối tiếp theo đó là nền văn minh Sa Huỳnh rực rỡ mà dấu vết của nó trải rộng trên hầu hết địa bàn tỉnh Quảng Nam từ biển lên đến vùng núi cao. Theo các dấu vết khảo cổ, nhất là các đợt điền dã, khảo cổ của giáo sư Trần Quốc Vượng ở Hội An trong các năm từ 1989-1994, nền văn hóa Sa Huỳnh phát triển rực rở ở đây và chấm dứt hẳn vào thế kỷ thứ nhất sau công nguyên. Ngay lúc ấy, thế kỷ một sau công nguyên, những dấu vết đầu tiên của người Chàm cũng xuất hiện trong các hố đào khảo cổ ở Trà Kiệu. Một số nhà nghiên cứu cho rằng văn hóa Chămpa là sự bản địa hóa văn hóa Ấn Độ của người Sa Huỳnh. Thế nhưng quan điểm này không thể trả lời được tại sao trên cùng một địa bàn (Hội An chỉ cách Trà Kiệu chừng 10 km chim bay), cùng một thời điểm (thế kỷ thứ nhất sau công nguyên) lại có hai nền văn hóa cùng tồn tại với những nét bản sắc khác nhau khá quyết liệt và mạnh mẽ. Đồ gốm người Sa Huỳnh nhẹ lửa nhưng thanh thoát, tạo dáng thanh nhã, nhẹ nhõm, dùng nhiều hoa văn và màu sắc để tô vẽ. Trong khi đó đồ gốm người Chàm hầu như không tô vẽ, gốm dày và thô, nặng lửa, và đặc biệt lại không dùng bàn xoay, một bước tiến kỹ thuật. Tại sao lại có một bước lùi về kỹ thuật như vậy? Người Sa Huỳnh là người bản địa, chắc chắn ngôn ngữ của họ thuộc nhóm Môn-Khmer; người Chàm thì ngôn ngữ thuộc nhóm Nam Đảo. Bảo người Chàm chính là người Sa Huỳnh tiếp nhận văn hóa Ấn Độ e rằng có hơi vội vã. Nếu người Chàm không phải là người Sa Huỳnh thì họ là ai trong số các Nam Đảo, kể cả các nước Nam Á như Miên, Xiêm, Miến và cả Ấn Độ? Như vậy là gốc gác của người Chàm vẫn còn là một câu hỏi lớn, và vì thế, như sự chứng minh trong các chương nội dung, người Quảng Nam có nhiều gốc gác, quan hệ huyết thống với người Chàm, cũng có nghĩa rằng gốc gác người Quảng Nam, theo nghĩa rộng thì một bộ phận nào đó của người Việt, của người Đàng Trong, cũng cần phải mở rộng không gian tìm kiếm ra xa hơn, rộng hơn và bất ngờ hơn nữa.

Nhận xét :

Đăng nhận xét